Backgroup Default
Thứ tư, 1/10/2026
TRANG CHỦ    Tin hoạt động ngành    Bản tin y tế Tp.Cần Thơ
Ngày đăng:  23/09/2026, Lượt xem: 105

Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục là một phần quan trọng của sức khỏe thể chất, tinh thần và chất lượng cuộc sống của mỗi người. Người khuyết tật cũng có đầy đủ quyền được tiếp cận thông tin, tư vấn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục (SKSS-SKTD) phù hợp, an toàn và bình đẳng. Tuy nhiên, trên thực tế, người khuyết tật vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các dịch vụ này. Vì vậy, việc triển khai các mô hình, giải pháp đổi mới, sáng tạo là cần thiết, góp phần thu hẹp khoảng cách và bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế của người khuyết tật.

Ông Matt Jackson, Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam, cùng đại diện Bộ Y tế và ngành y tế Cần Thơ đã đến thăm một số hộ gia đình có người khuyết tật tại địa bàn triển khai dự án. Ảnh: Lê Huy

Từ chính sách đến mô hình cộng đồng
Tại Việt Nam, người khuyết tật chiếm hơn 6% dân số. Mặc dù tỷ lệ người khuyết tật có thẻ bảo hiểm y tế đạt gần 96%, khả năng tiếp cận thông tin và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên thực tế vẫn còn hạn chế. Bên cạnh những khó khăn trong sinh hoạt và học tập, người khuyết tật còn phải đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trong đó có SKSS-SKTD.
Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ cho người khuyết tật, tháng 10/2024, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3082/QĐ-BYT, kèm theo Hướng dẫn quốc gia về cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS-SKTD cho người khuyết tật.
Trên cơ sở đó, từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, dưới sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc và Bộ Y tế, Sở Y tế và cùng Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Cần Thơ đã triển khai mô hình thí điểm với ngân sách 40.000 USD do Quỹ Khuyết tật Toàn cầu tài trợ.
Mô hình tập trung nâng cao năng lực cho y tế cơ sở nhằm cung cấp dịch vụ SKSS-SKTD có chất lượng cho người khuyết tật; đồng thời thúc đẩy việc tiếp cận thông tin, thay đổi hành vi và chủ động sử dụng dịch vụ của người khuyết tật.
Các can thiệp được thiết kế theo hướng đồng thời tháo gỡ rào cản ở cả hai phía: nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ của hệ thống y tế và tăng khả năng tiếp cận, chủ động sử dụng dịch vụ của người khuyết tật, gia đình và cộng đồng.
Tại tuyến y tế cơ sở, dự án tập trung đào tạo cán bộ theo Hướng dẫn quốc gia về cung cấp dịch vụ SKSS-SKTD cho người khuyết tật; đồng thời tăng cường giám sát, hỗ trợ kỹ thuật nhằm từng bước chuẩn hóa chất lượng dịch vụ.
Ở cộng đồng, các hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi được triển khai với sự tham gia của cán bộ y tế, Hội Người khuyết tật, Hội Phụ nữ, các tổ chức đoàn thể và cộng tác viên. Nội dung, hình thức truyền thông được xây dựng phù hợp với văn hóa địa phương, giúp người khuyết tật và người chăm sóc dễ tiếp cận, hiểu và sử dụng thông tin.
Một điểm đáng chú ý của mô hình là Hội Người khuyết tật được tham gia ngay từ khâu thiết kế hoạt động, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng. Hội hỗ trợ rà soát các hộ gia đình có người khuyết tật, hỗ trợ giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu và trở thành cầu nối giữa hệ thống y tế với cộng đồng.
BS.CKII Phạm Phú Trường Giang, Phó Giám đốc Sở Y tế cho biết: “Người khuyết tật là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng và có đầy đủ quyền được tiếp cận thông tin, chăm sóc SKSS-SKTD. Vì vậy, việc triển khai các mô hình, giải pháp đổi mới, sáng tạo là cần thiết, góp phần thu hẹp khoảng cách và bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế của người khuyết tật”.

Đại diện UNFPA tại Việt Nam, Bộ Y tế, lãnh đạo ngành y tế đã đến thăm Văn phòng Hội Người khuyết tật thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lê Huy

Đưa dịch vụ đến gần hơn với người khuyết tật
Thực tế triển khai cho thấy, khi thông tin và dịch vụ được đưa đến gần cộng đồng, những rào cản trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe từng bước được tháo gỡ. Thông qua các chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ, đã có 345 lượt người khuyết tật được khám và tư vấn. Hơn 100 người khuyết tật, 150 người chăm sóc và 30 người có ảnh hưởng trong cộng đồng được tiếp cận thông tin về SKSS-SKTD. Đồng thời, 15.000 tài liệu truyền thông gồm tờ gấp, tờ rơi, áp phích và sách nhỏ được cấp phát đến các cơ sở y tế và hộ gia đình có người khuyết tật.
Dự án cũng hỗ trợ chi phí đi lại, góp phần giúp người khuyết tật và người chăm sóc thuận tiện hơn khi tham gia các hoạt động truyền thông cũng như các chiến dịch cung cấp dịch vụ lồng ghép.
Em Phạm Lư Bích Tuyên (xã Cờ Đỏ) chia sẻ: “Em được đi khám bệnh, cấp thuốc đầy đủ, được hỗ trợ chi phí, cho thấy được là mọi người rất là quan tâm người khuyết tật”.
“Bác sĩ khám tận tình, siêu âm thấy phát hiện bệnh như sỏi thận, rồi khuyên về uống nước nhiều, rồi Vinh thấy cũng an tâm” - Anh Phan Nguyễn Quốc Vinh (xã Cờ Đỏ), cho biết.
Trong các dịch vụ được sử dụng, tư vấn sức khỏe sinh sản lồng ghép trong các đợt khám sức khỏe tổng quát chiếm tỷ lệ cao nhất, hơn 39%. Kết quả này cho thấy việc lồng ghép tư vấn sức khỏe sinh sản vào các hoạt động khám, chăm sóc sức khỏe thường xuyên có thể trở thành một điểm tiếp cận thuận lợi, giảm tâm lý e ngại và giúp người khuyết tật dễ dàng tiếp cận dịch vụ hơn.
Đáng chú ý, khảo sát cho thấy gần 100% người khuyết tật được tiếp cận đã nhận được tư vấn về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Không chỉ thay đổi về khả năng tiếp cận dịch vụ, mô hình còn ghi nhận sự thay đổi trong quá trình ra quyết định. Gần 51% người khuyết tật và người chăm sóc cùng đưa ra quyết định khám bệnh, trong khi hơn 17% người khuyết tật tự quyết định lựa chọn sử dụng dịch vụ y tế.

Các đại biểu thảo luận về chủ đề tháo gỡ rào cản tại cơ sở y tế để tăng cường tiếp cận và sử dụng dịch vụ SKSS-SKTD cho người khuyết tật và tháo gỡ rào cản văn hóa, kinh tế - xã hội để người khuyết tật chủ động tìm kiếm dịch vụ SKSS-SKTD. Ảnh: Đỗ Quyên

Hướng tới mô hình bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau
Từ thực tiễn triển khai, mô hình nâng cao năng lực cho nhân viên y tế cần đi cùng với việc tháo gỡ các rào cản về đi lại, thông tin và truyền thông tại cộng đồng. Chỉ khi cả “cung” và “cầu” cùng được cải thiện, người khuyết tật mới có điều kiện tiếp cận và sử dụng dịch vụ một cách thực chất. Bên cạnh đó, việc huy động Hội Người khuyết tật, Hội Phụ nữ, các tổ chức đoàn thể và mạng lưới cộng tác viên tại cộng đồng có vai trò quan trọng trong thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người khuyết tật, gia đình và cộng đồng, qua đó góp phần giảm định kiến. Vì vậy, duy trì hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn hóa dịch vụ theo Hướng dẫn quốc gia và bố trí nguồn lực bền vững là cần thiết để những kết quả bước đầu có thể được duy trì lâu dài.
Mô hình thí điểm tại Cần Thơ cho thấy, khoảng cách giữa “có quyền được chăm sóc sức khỏe” và “thực sự sử dụng được dịch vụ” hoàn toàn có thể được thu hẹp khi các rào cản được nhận diện và giải quyết đồng bộ.
Quan trọng hơn, khi người khuyết tật được tôn trọng, được lắng nghe và được tham gia vào những quyết định liên quan đến sức khỏe của mình, họ không chỉ là người tiếp nhận dịch vụ mà trở thành chủ thể của quá trình chăm sóc sức khỏe.
Từ những kết quả bước đầu, việc duy trì và nhân rộng mô hình sẽ góp phần đưa các cam kết chính sách đến gần hơn với cuộc sống, xây dựng hệ thống y tế công bằng, hòa nhập và thân thiện, trong đó người khuyết tật có thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS-SKTD an toàn, chất lượng và tôn trọng.

Các đại biểu tại Hội thảo Tổng kết dự án "Các can thiệp đổi mới sáng tạo trong cung cấp dịch vụ Sức khỏe sinh sản - Sức khỏe tình dục cho người khuyết tật” tại Cần Thơ. Ảnh: Đỗ Quyên

Ông Nguyễn Văn Chi, Phó Cục trưởng, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, cho biết: “Điểm nổi bật của dự án này, là can thiệp khá toàn diện đối với lĩnh vực chăm sóc SKSS-SKTD cho người khuyết tật. Và đặc biệt là trong quy trình thiết kế dự án, thì nó có sự tham gia của NKT và các tổ chức NKT ngay từ đầu. Thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ SKSS-SKTD cho người khuyết tật không phải là tạo ra một đặc quyền riêng, mà là bảo đảm mọi người đều có cơ hội tiếp cận chăm sóc sức khỏe phù hợp với nhu cầu của mình”. Ông cũng đề nghị TP Cần Thơ tiếp tục duy trì những kết quả phù hợp của mô hình, đảm bảo tính bền vững sau khi dự án kết thúc.
Mỗi cán bộ y tế cần chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng tư vấn và giao tiếp với người khuyết tật. Mỗi cơ sở y tế cần từng bước rà soát khả năng tiếp cận của người khuyết tật đối với không gian, thông tin và dịch vụ. Gia đình và cộng đồng cần thay đổi cách nhìn, tôn trọng nhu cầu tình cảm, sức khỏe sinh sản và quyền tự quyết của người khuyết tật.
Khi những rào cản về thông tin, cơ sở vật chất, kỹ năng giao tiếp và định kiến xã hội từng bước được tháo gỡ, người khuyết tật sẽ có thêm cơ hội chủ động chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bản thân và xây dựng cuộc sống gia đình, xã hội phù hợp với mong muốn của mình.
Chăm sóc sức khỏe toàn diện là chăm sóc mọi người. Thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho người khuyết tật cũng chính là góp phần xây dựng một hệ thống y tế công bằng, nhân văn và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Đỗ Quyên

✭ Bài viết liên quan